Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang đẩy mạnh đầu tư vào cơ sở hạ tầng số, các nền tảng chia sẻ và cơ sở dữ liệu tích hợp cho nông nghiệp và môi trường, tập trung vào việc tập trung hóa, tiêu chuẩn hóa và bảo mật.

Máy bay không người lái được sử dụng để phun thuốc trừ sâu nhằm chăm sóc vụ lúa đông xuân tại thành phố Cần Thơ, Đồng bằng sông Cửu Long. — Ảnh VNA/VNS của Duy Khương
Bộ Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam đang đặt chuyển đổi số và phát triển dữ liệu toàn ngành làm trọng tâm trong chiến lược dài hạn, phù hợp với Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá khoa học, công nghệ, đổi mới và chuyển đổi số quốc gia, cùng các nghị quyết liên quan của Quốc hội và Chính phủ.
Để đạt được mục tiêu đó, Bộ đang tăng cường đầu tư vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật số, các nền tảng chia sẻ và cơ sở dữ liệu tích hợp cho nông nghiệp và môi trường, với trọng tâm là tập trung hóa, tiêu chuẩn hóa và bảo mật.
Mục tiêu trọng tâm là tăng cường khả năng kết nối và tương tác dữ liệu cả trong nội bộ ngành và với Trung tâm Dữ liệu Quốc gia.
Công tác quản lý, chỉ đạo và thực thi chính sách đang dần chuyển sang mô hình dựa trên dữ liệu, nhằm mục đích nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, nâng cao chất lượng dịch vụ công và phục vụ tốt hơn cho người dân và doanh nghiệp.
Điều quan trọng là Bộ này nhấn mạnh rằng việc xây dựng cơ sở dữ liệu không chỉ đơn thuần là việc thu thập dữ liệu mà còn là đảm bảo chất lượng và khả năng sử dụng của dữ liệu.
“Không có dữ liệu thì không thể có quản lý hay điều hành”, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng cho biết.
“Chuyển đổi số là nhiệm vụ tất yếu nếu ngành này muốn nâng cao hiệu quả quản lý, phục vụ người dân và phát triển nông nghiệp thông minh.”
“Dữ liệu phải là nền tảng, và kết quả là thước đo cuối cùng”, ông Hưng nói, đồng thời cho biết thêm rằng ngành này đang tập trung vào ba nhiệm vụ chính.
Thứ nhất là chuyển đổi các phương pháp quản lý từ những thực tiễn dựa trên kinh nghiệm và thủ công sang quản lý kỹ thuật số, dựa trên dữ liệu.
Thứ hai là hoàn thiện các cơ sở dữ liệu ngành dùng chung đáp ứng các tiêu chí về tính chính xác, đầy đủ, sạch sẽ và cập nhật, có khả năng phản ánh thực tế một cách kịp thời.
Thứ ba là chuyển đổi dần từ các thao tác thủ công sang tự động hóa, áp dụng công nghệ kỹ thuật số vào việc giám sát, dự báo và ra quyết định.
Theo các chuyên gia, khi dữ liệu được coi là nguồn lực chiến lược và được khai thác hiệu quả, lĩnh vực nông nghiệp và môi trường không chỉ có thể tăng cường năng lực quản trị mà còn mở khóa những động lực mới cho sự tăng trưởng bền vững.
Từ dự báo thị trường nông nghiệp và quản lý tài nguyên đất và nước đến kiểm soát ô nhiễm, phòng chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu, các hoạt động dự kiến sẽ ngày càng chính xác, kịp thời và minh bạch hơn.
Điều này sẽ tạo nền tảng quan trọng để xây dựng một ngành nông nghiệp hiện đại, thông minh và hiệu quả, phù hợp với giai đoạn phát triển mới.
Theo chiến lược chuyển đổi số, ngành này đặt mục tiêu hoàn thành các trung tâm dữ liệu hiện đại, thân thiện với môi trường và dùng chung vào năm 2030.
Trên cơ sở đó, Bộ có kế hoạch phát triển các nền tảng và ứng dụng kỹ thuật số chung từ cấp trung ương đến cấp địa phương, hỗ trợ quản lý nhà nước toàn diện đồng thời đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người dân và doanh nghiệp.
Đến năm 2030, mục tiêu là thiết lập, chuẩn hóa và làm sạch 100% cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, hình thành một hệ sinh thái dữ liệu thống nhất được quản lý tập trung và đồng bộ hóa thông qua các trung tâm dữ liệu của bộ.
Các cơ sở dữ liệu quan trọng phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chí về tính chính xác, đầy đủ, sạch sẽ, hoạt động liên tục, thống nhất và được chia sẻ, tạo nền tảng vững chắc cho việc quản trị và ra quyết định dựa trên dữ liệu.
Theo Vụ Chuyển đổi số của Bộ, hiện nay lĩnh vực này đang vận hành 115 cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành, bao gồm 10 cơ sở dữ liệu phục vụ lãnh đạo và quản lý vận hành, ba cơ sở dữ liệu phục vụ trực tiếp người dân và doanh nghiệp, và 102 cơ sở dữ liệu chuyên ngành về nông nghiệp và môi trường.
Một cơ sở dữ liệu quốc gia đã được thành lập, đó là Cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia, trong khi một Cơ sở dữ liệu biến đổi khí hậu quốc gia đang được đề xuất.
Một số bộ dữ liệu khác, mặc dù không được chính thức chỉ định là cấp quốc gia, nhưng bao gồm phạm vi toàn quốc, chẳng hạn như các bộ dữ liệu về tài nguyên nước, dữ liệu không gian địa lý, môi trường, khí tượng và thủy văn, các giống cây trồng, nghề cá, quản lý đê điều và giảm nghèo.
Trên thực tế, việc phát triển cơ sở dữ liệu đã mang lại những kết quả bước đầu quan trọng.
Ngành này đã hoàn thành cả Cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia và Cơ sở dữ liệu thủy sản quốc gia, đồng thời triển khai các điều kiện kỹ thuật để kết nối và đồng bộ hóa dữ liệu với Cơ sở dữ liệu dân số quốc gia và Trung tâm dữ liệu quốc gia.
Một khuôn khổ cơ bản về quy định kỹ thuật cho các cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành cũng đã được ban hành, cung cấp các hướng dẫn tiêu chuẩn hóa cho việc xây dựng, hoàn thiện và chia sẻ dữ liệu với các bộ, ngành và chính quyền địa phương trên toàn quốc.
Theo VNS











